IPB Style© Fisana

Jump to content


Truyện tranh vn tự sáng tác Phòng Tranh Các cuộc thi Thảo Luận Tutorial tuyển dụng
- - - - -

[Ả Rập] Nền văn minh Ả rập cổ đại và đạo Hồi


  • Nông dân không có quyền gửi ruộng mới
  • Bạn không thể cày trong ruộng này
Chưa có vựa lúa nào trả lời cho ruộng này

#1 Belldandy

    Nông dân lái máy cày

  • Bô lão
  • PipPipPipPipPipPip
  • 447 vựa lúa
  • 9 Thích
  • Cộng tác:NAT Project (I-M Group)
    KG Project
    GFMag (Infomation)

Gửi vào 05 September 2007 - 06:30 PM

Ảrập_cái tên nghe vừa lạ vừa quen, nhưng chắc ít ai trong chúng ta biết rằng nơi đây chính là quê hương của Đạo Hồi.
Đầu tiên, mình sẽ giới thiệu sơ lược về Ảrập:
Ảrập là bán đảo lớn nhất thế giới, nằm ở Tây Á, diện tích lớn hơn 1/4 châu Âu. Tuy vậy, trên cả bán đảo chỉ có vùng Yêmen ở phía Tây Nam có nguồn nước phong phú, đất đai có thể trồng trọt được. Hơn nữa, nhờ nằm trên con đường buôn bán giữa Tây Á và Bắc Phi, nên Yêmen có điều kiện phát triển về thương nghiệp. Vì vậy, từ thế kỉ X đến thế kỉ VI TCN, ở đây đã thành lập nhiều nhà nước cổ đại.

Sự thành lập và diệt vong của nhà nước Ảrập:

Nhà nước Ảrập đến thế kỉ VII mới thành lập. Quá trình thành lập nhà nước Ảrập gắn liền với quá trình thành lập đạo Hồi do Muhamat truyền bá.
Muhamat xuất thân từ một bộ lạc có thế lực ở Mecca. Năm 610, ông bắt đầu truyền bá đạo Hồi. Năm 622, bị tầng lớp quý tộc Mecca phản đối và hãm hại, Muhamat cùng tín đồ của mình phải chạy lên thành phố Yatơríp ở phía Bắc (cách Mecca 400 km). Năm xảy ra sự kiện này được coi là năm thứ nhất của kỉ nguyên Hồi giáo. Muhamat tự cưng là tiên tri, nên từ đó thành phố Yatơríp đổi tên thành Mêdina, nghĩa là "thành phố của tiên tri". Tại đây, Muhamat dần dần thành lập được 1 lực lượng chính trị kết hợp với tôn giáo do ông cầm đầu. Để duy trì lực lượng, Muhamat thường xuyên tập kích các đội buôn của Mecca, do đó chiến tranh giữa Mêdina và Mecca đã diễn ra nhiều lần. Năm 628, Muhamat kí hòa ước ngừng chiến 10 năm với Mecca. Năm 629, Muhamat dẫn 2000 tín đồ ở Mêdina đến Mecca và đến thăm đền Caaba. Nhiều người ở Mecca và vùng xung quanh cũng theo Hồi giáo.
Năm 630, nhận thấy mình đã đủ thế lực để chiếm Mecca, Muhamat đem 10 000 người tiến xuống thành phố này. Mecca không dám chống cự. Muhamat trở thành người đứng đầu nhà nước Arập mới thành lập. Các tượng thần bộ lạc trong đền Caaba bị vứt bỏ. Đền Caaba trở thành thánh thất chính của Hồi giáo và Mecca trở thành thánh địa chủ yếu của tôn giáo này.
Năm 632, Muhamat chết. Từ đó, người đứng đầu nhà nước và tôn giáo ở Ảrập gọi là Calipha (nghĩa là người kế thừa của tiên tri).
Để mở rộng đất đai và truyền bá đạo Hồi, Ảrập tích cực thi hành chính sách xâm lược bên ngòai. Kết quả, Ảrập lần lượt chinh phục được Xiri (636), Palestin(638), Ai Cập(342), Ba Tư(651).
Sau khi Muhamat chết, từ năm 632 đến năm 661, các Calipha đều do giới quý tộc bầu ra.Năm 661, Calipha Ali vốn là em con chú và là con rể của Muhamat bị giết chết, viên tổng đốc ở Xiri thuộc họ Ômayat đã được lập lên làm Calipha. Từ đó ngôi Calipha trở thành cha truyền con nối. Như vậy, vương triều đầu tiên ở Ảrập_ vương triều Ômayat (661-750) được thành lập. Đa mát ở Xiri được chọn làm kinh đô của vương triều này.
Triều Ômayat tiếp tục thi hành chính sách chinh phục bên ngòai, kết quả Arập chiếm được một dải ở miền Bắc châu Phi và bán đảo Tây Ban Nha, do đó đến giữa thế kỉ VIII, Ảrập trở thành một đế quốc rộng lớn, lãnh thổ bao gồm đất đai của ba châu là châu Á, châu Phi, châu Âu. Đông đến lưu vực sông Ấn,Tây giáp Đại Tây Dương.
Năm 750, phong trào khởi nghĩa của nhân dân đã lật đổ triều Ômayat. Nhân đó, một địa chủ ở Irăc được lập lên làm Calipha, triều Abat thành lập. Năm 762, triều Abat dời kinh đến Batda.
Đến thế kỉ X, đế quốc Ảrập không duy trì sự thống nhất nữa, thế lực ngày càng suy yếu. Năm 1258, kinh đô Batda bị quân Mông Cổ chiếm. Đế quốc Ảrập diệt vong.

ĐẠO HỒI

Đạo Hồi theo tiếng Ảrập là Ixlam nghĩa là "phục tùng", về sau dân tộc Hồi ở Trung Quốc theo tôn giáo này nên ta quen gọi là Đạo Hồi.
Đạo Hồi là một tôn giáo nhất thần tuyệt đối. Vị thần duy nhất mà Đạo Hồi tôn thờ là thánh Ala. Tín đồ Hồi giáo tin rằng ngoài thánh Ala không có vị thần nào khác. Tất cả những gì trên trời, dưới đất đều thuộc về thánh Ala. Ala đã dựng nên vòm trời mà không dùng cột, chế ngự được mặt trời, mặt trăng, tạo ra mặt đất rồi đặt trên đó đây là núi, kia là sông. Ala cũng sinh ra loài người và biết linh hồn mỗi người ra sao. Ala có một số thiên thần giúp việc, ghi chép những hành vi thiện ác của mỗi người và làm sứ giả.
Còn Muhamat là người được Ala giao cho sứ mệnh truyền bá tôn giáo nên chỉ là sứ giả của Ala và là tiên tri của tín đồ. Muhamat cũng cônh nhận rằng trước ông có nhiều vị tiên tri như Ađam, Nôê, Môidơ, Kitô... nhưng ông là vị tiên tri cuối cùng và vĩ đại nhất.
Đạo Hồi cũng tiếp thu nhiều quan niệm của các tôn giáo khác, nhất là của Đạo Do Thái như truyền thuyết về sáng tạo thế giới, thiên đường, địa ngục, cuộc phán xét cuối cùng thiên thần, quỷ Sa tăng... Đạo Hồi còn bắt chước một số nghi thức và tục lệ của Đạo Do Thái như: trước khi cầu nguyện phải rửa mặt và tay chân, khi cầu nguyện phải hướng về thánh địa Mecca và phải phủ phục trán chạm đất; cấm ăn thịt heo, thịt chó, thịt các con vật chết vì bệnh, thịt đã cúng thần và cấm uống rượu.
Đạo Hồi chỉ có một điều quan trọng không giống các tôn giáo khác là tuyệt đối không thờ ảnh tượng vì họ quan niệm rằng Ala tỏa khắp mọi nơi, không có một hình tượng nào có thể thể hiện được Ala. Bởi vậy trong thành thất Hồi giáo chỉ trang trí bằng chữ Ảrập chứ không có tượng và tranh ảnh. Chỉ riêng trong đền Caaba ở Mecca có thờ một phiến đá đen từ xưa để lại mà thôi.


Về quan hệ gia đình, Đạo Hồi thừa nhận chế độ đa thê nhưng chỉ cho lấy nhiều nhất là 4 vợ. Đàn ông Hồi giáo có thể lấy người theo Đạo Do Thái hoặc Đạo Kitô làm vợ nhưng không được cưới người theo đa thần giáo. Tuy cho lấy nhiều vợ nhưng Đạo Hồi lại cấm việc lấy nàng hầu. Riêng Muhamat thì ngoại lệ: ông có 10 vợ và 2 nàng hầu

Về nghĩa vụ của tín đồ, Đạo Hồi quy định:
1. Thừa nhận chỉ có thánh Ala, không có vị thần nào khác, còn Muhamat là sứ giả của Ala và là vị tiên tri cuối cùng
2. Hàng ngày phải cầu nguyện 5 lần vào sáng, trưa, chiều, tối và đêm. Thứ sáu hàng tuần thì phải đến thánh thất làm lễ 1 lần.
3. Mỗi năm đến tháng, Ramađan phải trai giới 1 tháng, tháng Ra ma đan là tháng 9 lịch Hồi, nhưng vì Muhamat thay đổi âm lịch cũ, bỏ tháng nhuận nên tháng Ra ma đan cứ lùi dần, không tương ứng với một thời gian cố định nào của dương lịch.
4. Phải nộp thuế cho Đạo. Số thuế ấy dùng để xây cất thánh thất, bù đắp các khoản chi tiêu của chính quyền và bố thí cho người nghèo.
5. Trong suốt đời người, nếu có khả năng thì phải đi hành hương đến Caaba một lần.


Kinh thánh của Đạo Hồi là kinh Koran, tiếng Ảrập viết là "Kur an", nghĩa là "bài đọc", "bài giảng", trong đó ghi lại những lời nói của Muhamat, nhưng theo tín đồ Hồi giáo, đó là những lời phán bảo của thánh Ala.
Kinh Koran đề cập đến nhiều vấn đề thuộc nhiều lĩnh vực, do đó, đối với người Ảrập, kinh Koran ngoài những nguyên tắc tôn giáo còn là một bản tổng hợp mọi tri thức khoa học, mọi nguyên tắc pháp luật và đạo đức. Lúc đầu, ở Ảrập chưa có pháp luật nào khác ngoài kinh Koran, về sau tuy đã đặt ra pháp luật nhưng vẫn lấy giáo lí của kinh Koan làm nguyên tắc.

Tóm lại, "Hồi giáo là gì? ".Theo truyền thuyết, thiên thần, Gabrien đã hỏi Muhamat như vậy. Muhamat đáp:
Hồi giáo là tin vào Ala và vị tiên tri của ngài, đọc những kinh cầu nguyện đã chỉ định, bố thí cho người nghèo, nhịn ăn vào tháng Rama đan và hành hương ở thánh địa Mecca.
Cầu nguyện, bố thí, nhịn ăn và hành hương là 4 bổn phận của Hồi giáo. Thêm lòng tin vào Ala và vị tiên tri nữa là thành năm cái trụ cột của Hồi giáo.

Thời Muhamat, đạo Hồi chỉ mới truyền bá ở bán đảo Ảrập. Sau đó cùng với quá trình chinh phục của Ảrập, đạo Hồi đã truyền bá khắp Tây Á, Trung Á, Bắc Phi và Tây Ban Nha. Trong quá trình ấy, Đạo Hồi đã chia làm hai giáo phái chính là: phái Xumu và phái Shiite.
Ngày nay, đạo Hồi được truyền bá rộng rãi trên thế giới, đã thành quốc giáo của 24 nước như: Indonesia, Malaysia, Afganistan, Banglades, Pakixtan, Iran, Irac, các nước A rập Thổ Nhĩ Kì, Xiri, Ai Cập, Libi, Angiêri, Marốc...

(Lịch sử văn minh thế giới _ Vũ Dương Ninh)


VĂN HỌC

Văn học Ả rập có những thành tựu rất xuất sắc, chủ yếu biểu hiện ở hai mặt: thơ và truyện.
Trước khi nhà nước ra đời, ở Ả rập có rất nhiều thơ ca truyền miệng. Lúc bấy giờ trong dân gian có rất nhiều thi sĩ. Họ thường ngâm thơ cho các bộ lạc du mục nghe. Từ nửa thế kỉ VII về sau, thơ ca chép bằng chữ viết ra đời. Kế thừa truyền thống thơ ca đời trước, các bài thơ trong thời kì này tập trung thể hiện tinh thần lạc quan yêu đời mà phần lớn ca ngợi chiến công, rượu ngon.
Thời kì phát triển rực rỡ nhất của thơ ca Ả rập là từ thế kỉ VIII đến thế kỉ XI. Trên cơ sở nền thơ ca đời trước, giữa thế kỉ IX, hai thầy trò, Abu Tammam đã sưu tầm và hiệu đính thành 1 tác phẩm gồm hai tập lấy tựa đề là : "Anh dũng ca". Trong đó bao gồm tác phẩm của hơn 500 thi sĩ Ả rập thời xưa. Đến thế kỉ X, Abu Lơ Faraj lại soạn 1 tuyển tập thơ lớn gồm gần 20 cuốn lấy tựa đề là:"Thi ca tập". trong đó đưa vào rất nhiều thơ của các tác giả thời trước.
Trong thời kì này, ở Ả rập xuất hiện nhiều nhà thơ nổi tiếng, tiêu biểu là Abu Nuvat, Abu Lơ Ala Maari.
Về văn xuôi, nổi tiếng nhất là tập Nghìn lẻ một đêm hình thành từ thế kỉ X đến thế kỉ XII. Những truyện trong tác phẩm này bắt nguồn từ tập "Một nghìn câu chuyện" của Ba Tư ra đời từ thế kỉ VI, dần dần được bổ sung bằng các truyện thần thoại của Ấn Độ, Ai Cập, Hi Lạp... rồi cải biên và gắn lại với nhau thành một truyện dài xảy ra trong cung vua Ả rập. Tập truyện li kì, hấp dẫn này phản ánh cuộc sống, phong tục, tập quán và ước nguyện của nhân dân các dân tộc trong đế quốc Ả rập, đồng thời thể hiện trí tưởng tượng phong phú của họ.
Năm 1700, một người ở Xiri đã gửi một bản chép tay tác phẩm này cho nhà phương Đông học Pháp Artoine Galland. Ông đã dịch tác phẩm này ra tiếng Pháp, lấy nhan đề là Nghìn lẻ một đêm và xuất bản lần đầu tiên ở Pari năm 1704. Sau đó, tác phẩm này được dịch ra các thứ tiếng khác và rất được người đọc ưa thích.
Ngoài Nghìn lẻ một đêm, ở Ả rập còn có một tập truyện được lưu hành rất rộng, đó là tập Ngụ ngôn. Tập truyện này vốn là của Ấn Độ, viết bằng tiếng Phạn, được truyền sang Ba Tư từ thế kỉ VI, đến thế kỉ VIII thì được dịch ra tiếng Ả rập. Sau đó, nguyên bản tiếng Phạn mất, chỉ còn bản tiếng Ả rập, nhờ vậy đã được dịch ra 40 thứ tiếng.




NGHỆ THUẬT



Khi nhà nước Ả rập mới ra đời, vốn thoát thai từ nền kinh tế du mục và buôn bán, cơ sở nghệ thuật Ả rập rất nghèo nàn. Thêm vào đó, Muhamat lại cấm điêu khắc và hội họa vì hai môn này có thể dẫn đến sự sùng bái ảnh tượng. Muhamat cũng cấm dùng tơ lụa đẹp, các đồ trang sức đẹp bằng vàng bạc, để nhân dân khỏi vì ham muốn các thú vui mà sinh ra đồi bại. Tuy vậy, về sau, những cấm đoán ấy được nới lỏng, đòng thời đã học tập nghệ thuật của Ai Cập, Lưỡng Hà, Ba Tư, Bizantium, Ấn Độ nên nghệ thuật cũng có những tiến bộ đáng kể.

Thành tích về kiến trúc chủ yếu biểu hiện ở cung điện và thánh thầt Hồi giáo. Tương truyền rằng các cung điện của các Calipha Ả rập rất tráng lệ nhưng ngày nay không còn nữa.

Ví dụ thời Omayat, người Ả rập đã xây dựng một tòa cung điện có tới 360 phòng để mỗi phòng dành cho một ngày. Ở đây có một thư viện hai tầng. Có người nói rằng:" Không có một quyển sách viết về đề tài gì mà không có bản sao ở đó"
Thánh thất được xây cất rất công phu và trang hoàng rất rực rỡ. Trước thánh thất có một cái sân vuông, có một hồ nước để tín đồ tẩy uế trước khi cầu nguyện. Ở góc sân hướng về Mecca là thánh thất. Thánh thất xây theo hình vuông có mái tròn. Phía trong thánh thất có khám thờ, giảng đàn, giá đặt kinh Koran. Trong thời kì đầu, thánh thất chỉ được trang trí bang hình hoa lá và hình kỉ hà. Về sau, khi lệnh cấm vẽ hình người và động vật được nới lỏng thì thánh thất cũng được trang hoàng bằng các hình chim thú và các hình nửa chim nửa thú.
Tuy luật Hồi giáo thì như vậy nhưng một số Calipha Ả rập bất chấp những điều cấm đoán đó. trong cung điện mùa hè của Valit I đầu thế kỉ VIII được trang hoàng bằng những bức họa, trong đó vẽ người đi săn, vũ nữ,... và chân dung ông ngồi trên ngai vàng. Trong cung điện các vua triều Abat thì treo tranh vẽ cảnh đi săn, tu sĩ...


Do Hồi giáo cấm điêu khắc và hội họa nên địa vị của họa sĩ rất thấp, chỉ được coi ngang với thợ thủ công mà thôi. Trái lại, môn thư pháp rất được coi trọng, do đó những người viết chữ được đề cao và được tặng những số tiền lớn.

Âm nhạc lúc đầu cũng bị cấm vì truyền thuyết nói Muhamat cho rằng lời ca, tiếng hát, điệu vũ của phụ nữ cũng như tiếng các nhạc cụ là tiếng dụ dỗ của quỉ sứ để đày con người xuống địa ngục. Về sau, người ta cho rằng: rượu như thể xác, âm nhạc như linh hồn, nhờ hai thứ đó mà cuộc sống con người mới được vui vẻ. Vì vậy, âm nhạc dần dần được thịnh hành. Tuy vậy, nhạc Ả rập thường đơn điệu, buồn tẻ.

Trong quá trình ấy, từ thế kỉ VII, ở Ả rập đã biết:"Âm nhạc có thể đo được". Tư liệu này nói lên rằng lúc bấy giờ ở Ả rập đã biết kí âm thể hiện độ cao và độ dài của các nốt nhạc.Trong khi đó ở châu Âu, mãi đến cuối thế kỉ XII mới biết vấn đề đó. Người Ả rập cũng đẫ phát minh ra rất nhiều loại nhạc cụ như: đàn lút(luth), đàn lia(lyre), sáo, trống, chũm chọe, tù và,... Đàn lút giống như đàn măngđôlin, đàn luat lớn gọi là Kitara. Tương truyền rằng, cũng chính ngưới Ả rập là người đầu tiên sử dụng cây đũa nhạc trưởng. Sau khi âm nhạc trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu được thì Hồi giáo cũng phải dùng nó trong các buổi lễ. Tuy vậy, cũng như họa sĩ, địa vị của người nhạc sĩ rất thấp kém. Nhạc và vũ thường dành cho nô tì, vì vậy có một số người cho rằng sự làm chứng của nhạc sĩ là không có giá trị. Về sau, do chịu ảnh hưởng của Hy Lạp và Ba Tư nên Ả rập mới bớt thái đọ khinh thường nhạc sĩ.



KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Là một nước thành lập rất muộn, lúc đầu Ả rập tương đối lạc hậu về các lĩnh vực khoa học tự nhiên. Nhưng nhờ học tập được các thành tựu của các nền văn minh xung quanh như Ấn Độ, Trung Quốc, Hy Lạp nên khoa học của Ả rập đã phát triển nhanh chóng.

Sau khi thành lập nước không lâu, Ả rập đã cho dịch nhiều tác phẩm viết bằng tiếng Hy Lạp, Xiri, Phạn...Năm 830, triều Abat xây dựng một trung tâm khoa học bao gồm 1 viện khoa học, một đài thiên văn và một thư viện. Cơ quan này đã tuyển dụng một đội ngũ thông dịch viên đông đảo. Người đứng đầu đội ngũ phiên dịch này là Hunai Ibn Ishak. Ông nói rằng riêng ông đã dịch hơn 100 tác phẩm ra tiếng Ả rập trong đó có kinh cựu ước và nhiều tác phẩm của Arixtot, Platon, Ptoleme...Ông được trả thù lao rất hậu: các dịch phẩm cân nặng bao nhiêu thì được trả bấy nhiêu vàng. Đến giữa thế kỉ IX, hầu hết các tác phẩm về toán học, thiên văn, y học của Hy Lạp đã được dịch sang tiếng Ả rập.

Trên cơ sở tiếp thu các thành tựu văn hóa bên ngòai, các học giả Ả rập đã tiếp tục nghiên cứu và phát triển, do đó đã có nhiều cống hiến mới, nhất là về các mặt toán học, thiên văn học, địa lí học, hóa học,...

a, Về toán học: người Ả rập đã tiếp tục phát triển các môn đại số học, lượng giác học, hình học và hoàn thiện hệ thống chữ số. Nhà đại số học Ả rập nổi tiếng nhất là Muhamat Ibn Muxa tứ An Khoaridơmi (780-855). Tác phẩm Đại số học của ông là quyển sách đầu tiên về môn khoa học này. Chính vì vậy chữ Algèbre trong tiếng Pháp và Algebra trong tiếng Anh (đại số học) là bắt nguồn từ chữ Alfabr (có nghĩa là "phục hồi nguyên trạng") trong tiếng Ả rập.

Nhà toán học Abu Apđala al- Battani (850-929) thì lại có nhiều đóng góp về môn Lượng giác học.Các khái niệm sin, cosin, tang, cotang mà ngày nay chúng ta sử dụng là do ông đặt ra.

Người Ả rập còn có công lớn trong việc cải tiến và truyền bá hệ thống chữ số. Từ thế kỉ VIII, Ả rập đã dịch sách Siddhantas_tác phẩm thiên văn học của Ấn Độ viết từ thế kỉ V TCN. Có lẽ do công việc này mà người Ả rập đã học tập được 10 chữ số của người Ấn Độ. Năm 813, An Khoaridơmi đã dùng chữ số Ấn Độ trong môn thiên văn học. Khoảng năm 825, ông viết một cuốn sách có nhan đề là "An Khoaridơmi viết về con số Ấn Độ". Năm 976, Muhamat Ibn Amat nói khi làm toán không có số nào xuất hiện ở hàng chục thì phải dùng một vòng tròn nhỏ thay vào để giữ hàng. Người Ả rập gọi vòng tròn ấy là Sifr nghĩa là trống không, tiếng Latinh đổi thành Zephyrum, người Ý gọi tắt là Zero. Đó chính là số không "0" mà chúng ta sử dụng ngày nay.

b, Về thiên văn học: người Ả rập cũng rất chú ý quan sát các tinh tú và nghiên cứu các vết trên Mặt Trời . Họ cũng cho rằng Trái Đất tròn, hơn nữa, Al-Biruni_học giả tiêu biểu nhất của Ả rập cuối thế kỉ X đầu thế kỉ XI còn biết rằng vật gì cũng bị hút về phía trung tâm Trái Đất. Tuy nhiên ông lại không dứt khoát khi nói: hoặc Trái Đất quay xung quanh địa trục một vòng mỗi ngày và mỗi năm quay xung quanh Mặt Trời một vòng hoặc ngược lại, Mặt Trời mỗi ngày quay xung quanh nhật trục một vòng và mỗi năm quay xung quanh Trái Đất nột vòng, cả hai cách giải thích đều đúng.

Cuối thế kỉ XI, người Ả rập đã làm được một thiên cầu bằng đồng thau đường kính 209mm, trên đó có 47 chòm sao gồm 1015 ngôi sao.

c. Về địa lí học: người Ả rập đã dùng phương pháp cùng một lúc lấy vị trí của Mặt Trời ở hai điểm trên mặt đất và tính được 1 độ của Trái Đất dài hơn 90km và chu vi của Trái Đất là 30.000 km như vậy là gần đúng.
Do thương nghiệp phát triển sớm, người Ả rập có điều kiện đi đây đi đó nên từ thế kỉ IX, Ả rập đã có một số tác phẩm mô tả về Trung Quốc, Ấn Độ, Xrilanka. Đến cuối thế kỉ X, Ả rập còn có một tác phẩm địa lí rất quan trọng, đó là quyển Địa chí Đế quốc Hồi giáo của Muhamat Al- Mucadaxi.

Vào thế kỉ XII, Ả rập có hai nhà địa lí học rất nổi tiếng là Al- Iđrixi và Abu- Apđala Yacut. Theo yêu cầu của Vua Xiri Rôgiê II, Al- Iđrixi đã viết một tác phẩm nhan đề là Sách của Rôgiê. Trong sách này, ông lại chia Trái Đất làm 7 miền khí hậu, mỗi miền lại chia làm 10 phần, mỗi phần có vẽ một bản đồ tương đối chi tiết. Abu-Apđala Yacut mặc dầu cuộc đời trải qua nhiều gian truân nhưng đã hoàn thành được một bộ sách địa lí rất dày, trong đó tập hợp hầu hết những hiểu biết về Trái Đất của thời bấy giờ.

d, Về vật lí học: nhà khoa học tiêu biểu nhất là Al Haitoham ainh năm 965 và lĩnh vực ông có nhiều cống hiến nhất là quang học. Tác phẩm Sách quang học của ông được đánh giá là tác phẩm có tính chất khoa học nhất thời trung đại. Ông giải thích được rằng: " Hình thể của vật và con mắt người ta nhờ một vật trong suốt" tức là ông muốn nói đến thủy tinh thể. Ông cũng đã biết sự khúc xạ của ánh sáng trong không khí và nước, chính vì sự khúc xạ ấy mà Mặt Trời và Mặt Trăng khi ở gần chân trời thì nhìn thấy lớn hơn khi đã lên cao. Cũng do sự khúc xạ ánh sáng trong không khí mà chúng ta nhìn thấy tia sáng Mặt Trời khi Mặt Trời đã xuống tới 19 độ dưới chân trời. Căn cứ vào đó ông tính được lớp khí quyển xung quanh Trái Đất dày đến 15km. Ông còn nghiên cứu tác động của ánh sáng chiếu trên các gương lồi, gương lõm và các thấu kính hội tụ. Những ý kiến của ông có ảnh hưởng rất lớn đối với các nhà khoa học châu Âu. Chính nhờ sự gợi ý của ông mà các nhà khoa học phương Tây đã chế ra được kính hiển vi và kính viễn vọng.

e, Về hóa học: đóng góp của người Ả rập cũng rất quan trọng. Chính người Ả rập đã chế tạo ra nồi cất trước tiên và đặt tên là al-ambik, do đó nay tiếng Pháp gọi là alambic. Họ cũng đã phân tích được nhiều chất hóa học, đã phân biệt được bazơ và axit, lại còn bào chế được nhiều loại thuốc.

Người Ả rập còn quan niệm rằng kim loại nào phân tích tới cùng đều có những nguyên tố như nhau, do đó có thể làm cho loại này biến thành loại khác. Vì vậy, họ cho rằng từ Sắt, Đồng, Chì có thể tạo ra Vàng bạc nhưng muốn thực hiện được thì phải có một chất xúc tác mà họ chưa tìm thấy.

g, Về sinh vật học: từ thế kỉ IX, Otman Am an-Giahip đã nêu ra thuyết tiến hóa, cho rằng từ khoáng vật tiến hóa thành thực vật rồi đến động vật, đến người. Trong sinh học_lĩnh vực được người Ả rập quan tâm nhiều nhất là thực vật học. Từ sớm, họ đã sớm biết ghép cây, tạo ra các giống mới. Nhà thực vật học tiêu biểu đầu thế kỉ XIII là Baita. Ông đã tổng hợp các kiến thức về thực vật học của người Ả rập thành một tác phẩm lớn, một tác phẩm được coi là cơ sở của môn thực vật học và được sử dụng đến thế kỉ XVI. Một nhà thực vật khác là Avan trong tác phẩm sách của nông dân đã hướng dẫn cách trồng 585 loại cây và 50 loại cây ăn quả, hướng dẫn cách ghép cây, chỉ rõ các triệu chứng và một số bệnh của cây.

h, Về y học: Tuy bị cấm giải phẫu và mổ tử thinhưng Ả rập vẫn là nước có nền y học rất phát triển. Các thầy thuốc Ả rập đã biết cách chữa triất nhiều loại bệnh thuộc nội ngoại khoa, đặc biệt giỏi về khoa mắt. Có lẽ vì xứ Ả rập nhiều cát gió, nhiều người bị đau mắt nên các thầy thuốc quan tâm đến bệnh này nhiều hơn. Thành tựu y học của Ả rập còn thể hiện ở chỗ nhiều tác phẩm y học đã được biên soạn như: Mười khái luận về mắt của Isac, Sách chỉ dẫ cho các thầy thuốc khoa mắt của Ixa, Bệnh đậu mùa và bệnh sởi của Randi, Tiêu chuẩn y học của Xina... Nhiều tác phẩm trong số này được dịch ra tiến gLatinh và được dùng trong các trường Y khoa ở Tây Âu trong nhiều thế kỉ.

Ả rập có một đội ngũ thầy thuốc rất đông đảo, trong đó tiêu biểu nhất là Radi (người châu Âu gọi là Khadet), Xina (người châu Âu gọi là Avixen), Zuhr (người châu Âu gọi là Arendoa). Danh tiếng những người này vang tận Tây Âu, do vậy ngày nay ở Đại học Y khoa Pari vẫn treo chân dung của Radi và Xina.

Để chữa bệnh cho nhân dân, nhà nước Ả rập đã thành lập trong toàn đế quốc rất nhiều bệnh viện để chữa bệnh miễn phí cho mọi tầng lớp nhân dân. Lớn nhất trong số bệnh viện đó là bệnh viện Manxua xây ở Cairo vào cuối thế kỉ XIII. Bệnh viện này gồm 4 tòa nhà, trong đó có phòng khám bệnh, phòng phát thuốc, phòng thí nghiệm, phòng bệnh nhân, phòng họp, thánh thất, thư viện, phòng tắm, nhà bếp. Những người bị bệnh mất ngủ được ru ngủ bằng một thứ nhạc êm ái và được nghe những người chuyên môn kể chuyện. Bệnh nhân nghèo khi xuất viện còn được tặng một số tiền để khỏi làm việc ngay.

Ngoài các bệnh viện, nhà nước còn tổ chức các đoàn thầy thuốc đến các thầy thuốc để chữa bệnh cho dân. Một số thầy thuốc còn được thường xuyên cử đến các nhà lao để khám bệnh cho các tù nhân.



Như vậy, có thể nói, trong thời Trung đại, Ả rập là nước có những thành tựu rất lớn về y học và là nước đứng hàng đầu thế giới về sự nghiệp y tế.



(Lịch sử văn minh thế giới _ Vũ Dương Ninh)

Vựa lúa này đã được chỉnh sửa bởi Rya_rinchan: 14 April 2011 - 12:46 PM

  • Trở lên đầu trang